Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

KHOẢNG CÁCH GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN - ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

ĐỖ VĂN ĐẠI*
*TS. luật học, Giảng viên Trường Đại học Paris 13, Cộng hòa Pháp

Trong khi soạn cuốn sách Tư pháp quốc tế[1], chúng tôi thấy có nhiều khác biệt giữa kiến thức ở nhà trường và thực tiễn pháp lý. Hiện nay chúng tôi đang soạn thảo cuốn sách Luật hợp đồng Việt Nam, sau khi tham khảo tài liệu dành cho sinh viên cũng như phân tích hơn 500 bản án của Tòa án Việt Nam, chúng tôi lại thấy khoảng cách giữa thực tiễn và nhà trường là rất lớn. Sự khác đó không có lợi cho sinh viên, nguồn nhân lực quan trọng của ngành luật. Do đó, chúng tôi mạnh dạn đề cập đến vấn đề này để cùng nhau trao đổi. Trước khi đi tìm những nguyên nhân và hướng giải quyết (II), chúng tôi xin đưa ra một số thông tin về khoảng cách này (I).

I. Thực tế về khoảng cách giữa nhà trường và thực tiễn pháp lý
Khoảng cách giữa những thông tin “hàn lâm” và thông tin thực tiễn là rất lớn. Ở đây, chúng tôi chỉ dẫn một ví dụ cụ thể để minh họa. Đây là ví dụ liên quan đến hậu quả của việc hết thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực hợp đồng.

A. Hậu quả của việc hết thời hiệu trong giảng đường
Vấn đề thời hiệu không hoàn toàn mới trong pháp luật Việt Nam. Các nhà cổ luật Việt Nam đã từng đề cập đến vấn đề này. Chẳng hạn, theo Điều 588 Bộ luật Hồng Đức, “mắc nợ mà quá hạn không trả thì xử tội trượng, tùy theo nặng hay nhẹ; nếu cự tuyệt không chịu trả, thì xử biếm hai tư, bồi thường gấp đôi. Quá niên hạn mà không đòi thì mất nợ (hạn định là đối với người trong họ thì 30 năm, người ngoài thì hạn 20 năm)”. Ngày nay, BLDS quy định bốn loại thời hiệu, đó là thời hiệu hưởng quyền dân sự; thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; thời hiệu khởi kiện; thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến thời hiệu khởi kiện. Theo quy định tại khoản 3 Điều 155 BLDS thì “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm;...”. Nếu hết thời hiệu khởi kiện thì hậu quả pháp lý sẽ như thế nào trong tranh chấp về hợp đồng?
Trước khi trả lời câu hỏi vừa nêu thiết nghĩ nên làm rõ khái niệm quyền yêu cầu Tòa án can thiệp. Quyền này phát sinh từ quyền mà một bên được yêu cầu bên kia thực hiện (quyền nội dung). Ví dụ, quyền một bên yêu cầu Tòa án buộc bên kia thanh toán một khoản tiền phát sinh từ quyền bên này được yêu cầu bên kia thanh toán khoản tiền trên. Chẳng hạn, A cho B vay 100 triệu đồng. Vậy A có quyền yêu cầu B thanh toán khoản tiền này và quyền này làm phát sinh quyền của A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc B thanh toán. Khi hết thời hiệu khởi kiện, thì quyền khởi kiện (tức quyền yêu cầu Tòa án can thiệp) chấm dứt. Bởi vì theo khoản 3 Điều 155 BLDS, “thời hiệu khởi kiện là thời hạn (...); nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”. Một vấn đề đặt ra là liệu việc mất quyền yêu cầu Tòa án có dẫn đến mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu Tòa án không? Theo Giáo trình của Trường đại học Luật Hà Nội, “trong thời hạn do pháp luật quy định, người có quyền không khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết thì khi hết thời hạn đó, nghĩa vụ dân sự đương nhiên chấm dứt dù người có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa vụ đó”[2]. Như vậy, theo Giáo trình của Trường đại học Luật Hà Nội, khi “hết thời hiệu” thì “nghĩa vụ đương nhiên chấm dứt”. Áp dụng quan điểm này vào ví dụ nêu trên thì khi hết thời hiệu A sẽ không những mất quyền yêu cầu Tòa án can thiệp mà còn mất cả món nợ 100 triệu vì nghĩa vụ trả nợ này đã chấm dứt. Đó là thông tin mà chúng ta thấy từ nhà trường dành cho sinh viên. Thế còn thực tiễn pháp lý ở Việt Nam thì sao? Ví dụ sau đây cho thấy rõ câu hỏi này[3].

B. Hậu quả của việc hết thời hiệu trong thực tiễn pháp lý
Ngày 20/12/1995 vợ chồng bà Bé có làm tờ thế chấp tài sản để vay vốn với nội dung: Đồng ý thế chấp một căn nhà để vay 178 triệu đồng với lãi suất là 3%/tháng thời hạn trả hết tháng 12/1996 (âm lịch). Đến năm 2002, hai bên có tranh chấp và yêu cầu Tòa án can thiệp. Tại bản án sơ thẩm số 119/DSST ngày 15/10/2002, Tòa án huyện S đã nhận định: “kể từ năm 1997 đến nay bà Xuân không còn chứng cứ nào khác để chứng minh do khách quan nên không thể đòi số nợ trên, từ đó căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 tại điểm b khoản 3 và điểm a khoản 6, khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 thì thời hiệu khởi kiện đã hết, bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên vụ kiện sẽ được đình chỉ theo quy định của pháp luật”. Tại quyết định giám đốc thẩm số 136 ngày 18/11/2004, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét “hợp đồng vay nợ giữa bà Xuân với vợ chồng bà Bé được xác lập ngày 20/12/1995 thời hạn thanh toán hết tháng 12/1996 (âm lịch). Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy định: Trong thời hạn ba năm, kể từ thời điểm xảy ra vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền khởi kiện trước Tòa án, nếu pháp luật không có quy định nào khác. Quá thời hạn này, bên bị vi phạm mất quyền khởi kiện. Đến năm 2002 bà Xuân mới khởi kiện đòi nợ vợ chồng bà Bé là đã quá thời hạn khởi kiện. Về phía bà Xuân không chứng minh được từ thời điểm bên vay tiền vi phạm hợp đồng (tháng 12/1996 âm lịch) đến năm 2002 giữa hai bên có thoả thuận kéo dài thêm thời hạn trả nợ nên không có cơ sở để tính lại thời hiệu. Do đó, tại bản án sơ thẩm số 119 ngày 15/10/2002, Tòa án nhân dân huyện S đã xác định bà Xuân hết quyền khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ kiện là đúng pháp luật”.
Như vậy, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, khi hết thời hiệu khởi kiện, bên có quyền mất quyền yêu cầu Tòa án can thiệp bảo vệ. Liên quan đến món nợ thì sao? Trong tranh chấp giữa bà Bé và bà Xuân, bên cạnh việc xét rằng bà Xuân mất quyền khởi kiện, Tòa sơ thẩm còn nêu “bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên mặc nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ đã vay”. Như vậy, theo Tòa sơ thẩm, việc mất quyền yêu cầu Tòa án do hết thời hiệu khởi kiện làm mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu này. Cụ thể là, theo Tòa sơ thẩm, việc mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết do hết thời hiệu làm biến mất nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Bé. Giải pháp của Tòa sơ thẩm đã không được Chánh án Tòa án tối cao chấp nhận. Trong kháng nghị số 72/KNDS ngày 03/9/2004, Chánh án Tòa án tối cao có nêu rằng việc giải quyết như trên “là không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ xác định hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án không thụ lý giải quyết”. Quan điểm trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã được Tòa dân sự Tòa án tối cao chấp nhận. Tại quyết định giám đốc thẩm số 136 ngày 18/11/2004 Toà dân sự Tòa án nhân dân tối cao nhận định: “Tòa án cấp sơ thẩm tuy đã đình chỉ việc giải quyết vụ kiện là đúng pháp luật nhưng trong phần nhận định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên mặc nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ đã vay là không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ xác định hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án không thụ lý giải quyết”.
Như vậy, trong lĩnh vực hợp đồng, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, việc mất quyền khởi kiện không dẫn đến mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu Tòa án. Điều đó cho thấy rằng thực tiễn pháp lý và giảng đường là rất khác nhau. Với giải pháp trên, thực tiễn pháp lý Việt Nam làm cho pháp luật Việt Nam phù hợp với pháp luật nhiều nước trên thế giới. Theo pháp luật Đức, khi thời hiệu khởi kiện hết, quyền làm phát sinh quyền yêu cầu Tòa án không chấm dứt. Tương tự như vậy theo pháp luật của Hy Lạp, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Ailen, Bồ Đào Nha. Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế mà chúng tôi đề cập ở trên cũng quy định như vậy: theo khoản 1 Điều 10.9, “việc hết thời hiệu không chấm dứt quyền”. Giải pháp này dẫn đến hậu quả là nếu tự bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì không được đòi lại. Trong ví dụ trên, nếu bà Bé tự thanh toán cho bà Xuân mặc dù thời hiệu đã hết thì không được đòi lại khoản thanh toán đó. Vì quyền đó vẫn tồn tại nên bên có quyền vẫn có thể sử dụng để bù trừ với nghĩa vụ của mình với bên kia. Ví dụ nếu bà Xuân cũng phải trả bà Bé một khoản tiền thì bà Xuân có thể sử dụng khoản tiền mà mình cho vay để bù trừ với món nợ mà mình phải trả cho bà Bé.

II. Nguyên nhân và phương hướng giải quyết
Nguyên nhân của sự khác biệt giữa giảng đường và thực tiễn pháp lý có thể xuất phát từ phía những nhà thực tiễn cũng như từ phía đội ngũ giảng viên hiện nay.

A. Nhìn từ phía nhà thực tiễn
Khác với nhiều hệ thống pháp luật, ở nước ta hiện nay thông tin về thực tiễn pháp lý còn rất hạn chế. Ngoài một số thông tư mà cơ quan tố tụng cho công bố, rất ít thông tin thực tiễn được truyền tải ra ngoài. Rất ít bản án của Tòa án tối cao cũng như Tòa án địa phương được công bố. Bên cạnh đó, việc tham gia của những nhà thực tiễn trong các cuộc trao đổi pháp lý với phía nhà trường không nhiều. Chính vì lý do này mà kiến thức về thực tiễn của những người không “trong cuộc” là rất hạn chế. Vì vậy, để giảm bớt khoảng cách giữa thực tiễn và nơi đào tạo nhân lực cho ngành luật, thông tin từ thực tiễn nên được chính những nhà thực tiễn tạo điều kiện cho người ngoài cuộc tiếp cận.
Một số bản án của Tòa án Việt Nam đã được công bố và bình luận trên các Tạp chí pháp lý. Bản thân Tòa án tối cao đã cho phát hành hai cuốn về Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hiện nay, Tòa án tối cao đang tiếp tục thực hiện cho phát hành những ấn phẩm tương tự. Tuy nhiên, số lượng bản án được công bố trong những ấn phẩm vừa nêu chủ yếu là của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao. Các bản án của các Tòa chuyên trách như Tòa dân sự, Tòa hình sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động chưa được công bố một cách phổ biến. Các bản án của ba Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao cũng như bản án sơ, phúc thẩm của các Tòa địa phương gần như không được biết đến. Thiết nghĩ, để giảm bớt khoảng cách giữa nhà trường và Tòa án, phía những nhà thực tiễn nên tạo điều kiện cho giảng viên, sinh viên luật tiếp cận những thông tin thực tiễn và nghĩ tới những phương tiện truyền tải thông tin mới. Ví dụ, Tòa án tối cao nên công bố đều đặn những bản án giám đốc thẩm dưới dạng giấy truyền thống hoặc qua mạng Internet.

B. Nhìn từ phía nhà trường
Hiện nay dường như các cơ sở đào tạo luật đều dạy luật trên góc độ văn bản. Chủ yếu là trích dẫn văn bản pháp luật với một số bình luận. Đội ngũ giảng viên chưa được trang bị một cách chu đáo về phương pháp tiếp cận, khai thác thông tin thực tiễn. Chẳng hạn, họ chưa có thói quen sưu tầm cũng như khai thác các bản án và do đó sinh viên không có đầy đủ điều kiện để “ăn nhập” với kiến thức thực tiễn. Tòa án nhân dân tối cao đã cho công bố hai cuốn về những Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán nhưng hiện nay hai cuốn này rất ít được các nhà sư phạm khai thác. Đây là một điều đáng tiếc. Trước đây, nhiều giảng viên cho rằng họ không thể có thông tin thực tiễn, do đó việc họ không truyền đạt cho sinh viên thông tin đó cũng như không thể chỉ dẫn cho sinh viên phương pháp tiếp cận và khai thác những bản án. Ngày nay, cách trả lời đó không còn phù hợp nữa. Những Quyết định trên, mặc dù chưa nhiều, nhưng đều là những quyết định tiềm ẩn những vấn đề pháp lý quan trọng. Thiết nghĩ, để giảm bớt khoảng cách giữa thực tiễn và nhà trường, bản thân những người làm thầy cũng nên cố gắng tiếp cận, sưu tập, khai thác những thông tin thực tiễn.
Có thể có người cho rằng không nên truyền tải những thông tin thực tiễn vì chất lượng giải quyết những tranh chấp hiện nay tại các Tòa án còn kém, nhiều sai sót và đôi khi không đúng. Thiết nghĩ, quan điểm như vậy là không thuyết phục. Bởi thứ nhất, không phải giải pháp nào của Tòa án cũng là sai sót, không đúng. Rất nhiều giải pháp của Tòa án được đưa ra rất thuyết phục khi văn bản pháp luật không đầy đủ. Thứ hai, chúng ta không nên loại trừ một cách cực đoan các giải pháp tiềm ẩn trong các quyết định của Tòa án. Không nên chỉ truyền đạt những gì mà mình cho là đúng. Nhà trường không thể quyết định được cái gì đúng, cái gì sai. Nhà trường nên hướng cho sinh viên biết tư duy để biết đánh giá vấn đề. Vì vậy, mọi thông tin thực tiễn không những không nên hạn chế trong giảng đường mà còn khuyến khích học sinh tiếp cận vì khoa học pháp lý là khoa học tương đối trừu tượng nhưng lại là khoa học rất thực tiễn. Hàng ngày trong đời sống xảy ra tranh chấp và hàng ngày Tòa án phải áp dụng pháp luật để giải quyết. Giảng viên hoàn toàn có thể cho quan điểm của mình là giải pháp của Tòa A hay Tòa B là sai theo cách đánh giá của họ nhưng không nên vì họ cho là không hợp lý mà không truyền tải thông tin cho sinh viên.
Về phương pháp đào tạo, cách đây không lâu Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo có nêu rõ rằng “nhìn chung trình độ của giảng viên đại học của nước ta thấp trong tương quan với các nước trên thế giới, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học” và “đây là mặt yếu khá cơ bản, rất đáng quan tâm đối với đội ngũ giảng viên đại học cũng nhưng các trường đại học ở nước ta”[4]. Thiết nghĩ, cũng đến lúc chúng ta tìm kiếm, bổ sung phương pháp đào tạo để cải thiện chất lượng sinh viên trong lĩnh vực luật. Chúng ta đang quyết tâm “không” với nhiều vấn đề của giáo dục nhưng chúng ta cũng nên quyết tâm “có” với nhưng phương pháp đào tạo mới. Sau ba năm tham gia giảng dạy cao học luật ở Việt Nam và có nhiều dịp tiếp xúc với nghiên cứu sinh Việt Nam (được đào tạo cơ bản trong nước), chúng tôi thấy rằng kỹ năng phân tích, hiểu bản án của sinh viên là rất thấp chứ chưa nói đến kỹ năng bình luận án. Vì vậy, nhà trường nên bổ sung phương pháp, tạo điều kiện cho sinh viên biết những kỹ năng này. Những Quyết định giám đốc thẩm mà Tòa án tối cao công bố là một tài sản quý báu cho việc tiếp cận những phương pháp này. Trong thời gian giảng dạy cao học ở Hà Nội, chúng tôi có cho sinh viên tiếp cận, phân tích và đôi khi bình luận bản án của Tòa án Việt Nam thì kinh nghiệm cho thấy sinh viên tiếp thu rất nhanh và rất ham học hỏi. Bên cạnh việc phát huy những kỹ năng trên, chúng ta cũng nên tổ chức những buổi trao đổi giữa người làm thực tiễn và nhà trường. Việc này đóng vai trò không nhỏ trong việc giảm bớt sự khác biệt giữa giảng đường và thực tiễn. Hàng năm chúng ta gửi sinh viên đi thực tập hay buộc sinh viên làm luận văn. Chúng ta cũng nên hướng sinh viên tiếp cận pháp luật nhiều hơn từ góc độ thực tiễn.


Tóm lại, hiện nay giữa nhà trường và thực tiễn còn rất nhiều khoảng cách. Đây là một điều đáng tiếc. Nhà trường có chức năng đào tạo nhưng không phải đào tạo để cấp bằng cho sinh viên mà đào tạo một nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực pháp lý. Vì vậy, chúng ta nên kết hợp cả thực tiễn lẫn lý thuyết. Phía những người làm thực tiễn cũng nên tạo điều kiện cho nhà trường trong công việc tiếp cận thông tin. Tất cả hãy cùng nhau nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành luật.


[1] Xem Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia TP. HCM, 2006.
[2] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Công an nhân dân 2006, tr. 25.
[3] Về ví dụ này, xem thêm Đỗ Văn Đại và Đỗ Văn Hữu, “Hậu quả của việc hết thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực hợp đồng“, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Hiến kế lập pháp, số tháng 3/2006.[4] Xem bài “Yếu kém lớn nhất là phương pháp dạy học” tại http://dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/2006/11/151249 ngày 7/11/2006

TẠP CHÍ KHPL SỐ 3(40)/2007

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét