Thứ Tư, 13 tháng 5, 2009

Các kỹ năng bổ trợ cho nghề luật sư








Bạn ước mơ sẽ trở thành một luật sự giỏi và có thể thành công cao với nghề này. Như vậy, ngay từ bây giờ, bạn hãy quan tâm trau dồi các kỹ năng sau đây.


Là một luật sư nói riêng và người làm trong lĩnh vực pháp luật nói chung thì nhất thiết bạn phải có đạo đức – chính trị tốt, luôn trung thành với sự thật. Người ta vẫn ví những người làm trong lĩnh vực tư pháp là những người có thể đổi trắng thay đen, biến một người có tội nặng thành tội nhẹ, tội nhẹ thành vô tội và ngược lại. Hoặc cũng có ví luật sự như những con rắn có cái lưỡi không xương uốn éo sẵn sàng giối trá. Câu nói này xuất phát từ hiện tượng có không ít người đã vì lợi ích cá nhân mà dám bóp méo sự thật. Những người như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ bị pháp luật trừng trị. Nghề nào cũng cần phải có đạo đức nghề nghiệp, tuy nhiên nghề luật là nghề cần thiết hơn cả. Sự trung thực với sự thật, trung thành với luật pháp của những người luật sư sẽ góp phần làm cho xã hội trong sạch hơn.


Nghề luật là nghề nói, nghề cãi (người ta vẫn gọi luật sư là các thầy cãi), nên kỹ năng giao tiếp cũng như kỹ năng thuyết phục, diễn giải vấn đề 1 cách khúc chiết luôn là những kỹ năng quan trọng nhất. Hãy thử tưởng tượng xem, trong 1 phiên tòa mà vị luật sư cứ nói ấp a ấp úng, diễn đạt lủng củng, không rành mạch… thì liệu thân chủ của anh ta có bao nhiêu phần trăm thắng cuộc? Để có được những kỹ năng này, bạn cần phải chịu khó rèn luyện ngay từ bây giờ. Hãy tập nói 1 mình trước gương hay mời 1 và người bạn thỉnh thoảng tập hợp lại để cùng tranh luận về một vấn đề cùng quan tâm. Bạn cũng có thể tham gia các khóa học về kỹ năng giao tiếp ở các nhà văn hóa trong thành phố. Một điều nữa là trước khi nói, bạn nên tìm hiểu thật kỹ vấn đề mình sẽ nói, lên dàn bài cho nội dung mình sẽ nói… Bằng những cách này, bạn sẽ thấy cái lưỡi của bạn giống như lưỡi rắn thôi – như hãy nhớ bạn sẽ là một con rắn liêm chính đó nhé.


Sự hiểu biết về tâm lý con người nói chung và tâm lý tội phạm nói riêng sẽ giúp cho những luật sư dễ dàng tìm ra nguyên nhân của những hành vi phạm tội.Bạn cũng sẽ rất cần đến tư duy phân tích, tổng hợp, phán đoán, và tư duy logic. Bạn cần phân tích các hành vi xảy ra trong vụ kiện, sau đó sâu chuỗi tất cả những hành vi này này thành một hệ thống, thấy đâu là nguyên nhân, là điều cốt lõi của vụ kiện hay là một cánh cửa mở để đi theo nó mà thu thập thông tin tiếp. Tất cả những sự tư duy này luôn phải đảm bảo nguyên tắc logic chứ không thể đem cách suy nghĩ cảm tính vào được.


Bên cạnh những điều kiện, kỹ năng trên, bạn cũng cần phải có trình độ ngoại ngữ tốt để có thể làm việc tốt trong thời đại hội nhập ngày nay. Là một luật sự giỏi, bạn hoàn toàn có thể tham gia vào các vụ kiện tụng mang tính chất quốc tế hay các vụ kiện tụng có sự tham gia của người nước ngoài ở Việt Nam. Những vụ như vậy sẽ đem lại cho bạn rất nhiều kinh nghiệm cũng như một khoản thù lao không nhỏ đó. Đừng vì rào cản ngôn ngữ mà hạn chế tài năng của mình bạn nhé.

Trần Bình - Theo HieuHoc.com

Phụ nữ và Lãnh đạo: Nghệ thuật cân bằng tinh tế
















06/03/2009


Giữa nam và nữ lãnh đạo có một số sự khác biệt đặc thù trong cách ứng xử. Trong bài viết này, Tiến sĩ Hilary M. Lips - thuộc trường Đại học Radford phác thảo những sự khác biệt này, xác định các cách thức ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của phụ nữ, và đề xuất một số giải pháp để tạo ra con đường dễ dàng hơn cho các nhà nữ lãnh đạo.




Nước Mỹ gần đây đã tiến một bước khá xa trên con đường lựa chọn người phụ nữ đầu tiên tranh cử tổng thổng. Tuy nhiên, trong buổi diễn văn vận động bầu cử của bà Hillary Clinton, thật phi lý khi mọi người tập trung một cách khác thường đến bộ cánh “cổ trễ” mà bà mặc khi đọc diễn văn tại tầng một tòa nhà dành cho Thượng nghị sĩ. Cũng tương tự như những cách tiếp cận truyền thống, chiến dịch của bà là tạo một ấn tượng giới thiệu tính “dễ gần và ấm áp” để cân bằng với “sự mạnh mẽ và từng trải” dường như đặc biệt cần thiết cho một nữ ứng cử viên.



Có vẻ như kịch bản chung cho những người phụ nữ có quyền lực chính trị bị quan sát quá khắt khe và họ dễ sảy chân vi phạm kịch bản đó – khi bị nói rằng quá hung hăng, hay quá nhẹ nhàng, quá mạnh mẽ hay quá dễ dãi, không hấp dẫn chút nào hoặc vẻ ngoài quá hấp dẫn. Có vẻ như những nhà lãnh đạo nữ giới sẽ dễ dàng vi phạm những hệ thống hạn hẹp dành cho họ khi chức phận nữ giới theo văn hóa thường ngày cần ăn khớp với vai trò lãnh đạo.



Khi những nhà lãnh đạo nữ giới phải đối đầu với hai hệ thức trái ngược nhau này, họ liên tục bị đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn đối với những đồng nghiệp nam giới. Đối với nữ lãnh đạo, để họ có thể làm việc hiệu quả trong vị trí đó, cả nữ giới và nam giới cần nhận thức được những kì vọng khác nhau này, nhận biết các phương thức có thể gây ảnh hưởng đến cả người lãnh đạo và cấp dưới, từ đó hành động một cách đúng đắn.



Phản ứng khác nhau với lãnh đạo là phụ nữ hay nam giới



Quyền lực vận hành như là một hệ thống xã hội, kết thành từ vô số những hành vi được duy trì trong hệ thống văn hóa có ảnh hưởng nhất trong xã hội đó. Những hành vi lặp lại này duy trì hệ thống quyền lực bao gồm cả chuẩn mực giao tiếp, sự hiểu biết về những giá trị chung về văn hóa, kì vọng, quy tắc tiêu chuẩn và vai trò cá nhân. Hệ thống xã hội này chuyển hóa theo kì vọng hay hành vi của bất kì một cá nhân riêng lẻ nào và có xu hướng hình thành quyết định, sự tương tác, và mối quan hệ xã hội giữa các cá thể để phù hợp với hệ thống. Những phản hồi với nữ lãnh đạo hay nam lãnh đạo được hình thành trong một hệ thống xã hội truyền thống vốn do nam giới thống trị.



Những nhà nghiên cứu đã xác định bốn cách thức chủ yếu mà những người xung quanh phản ứng khác nhau với nữ lãnh đạo hay nam lãnh đạo. Những sự phản ứng khác nhau này có vẻ như không xuất phát từ phong cách lãnh đạo khác nhau của hai giới, mà do những động cơ thúc đẩy khác nhau dành cho hai giới. Nữ lãnh đạo thường nhận những phản ứng khác với nam lãnh đạo, bởi những kì vọng đã được định hình từ trước, được hình thành và tán đồng bởi hệ thống xã hội xung quanh, sẽ vô hiệu hóa và phủ nhận những cố gắng của phụ nữ để họ trở nên hiệu quả, quyền lực và có tầm ảnh hưởng.



Người ta kì vọng phụ nữ phải kết hợp khả năng lãnh đạo với sự quan tâm chăm sóc, và sẽ bị ghét nếu như phụ nữ không làm như vậy



Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra từ lâu rằng mọi người nghĩ đến từ “nam giới” khi họ nghĩ đến “lãnh đạo”, và hệ quả này bắt nguồn từ rất nhiều sự phân biệt trong văn hóa. Do sự chênh trong nhận thức về tiêu chuẩn dành cho nữ giới và dành cho vai trò lãnh đạo, phụ nữ thường bị đòi hỏi phải biết mềm mỏng trong phong cách lãnh đạo để dành được sự ủng hộ của người khác. Phụ nữ không biết điều hòa tổ chức của mình với sự quan tâm, thân thiện và ấm áp thì họ có thể bị ghét bỏ và mất tầm ảnh hưởng; nam giới không cần thiết phải hòa nhã khi họ thực thi quyền lực.
Phụ nữ lãnh đạo với phong cách độc đoán sẽ là tâm điểm của những sự phản đối hơn là phụ nữ áp dụng phong cách dân chủ; đàn ông thì có thể chọn phong cách độc đoán mà không bị ảnh hưởng gì, nếu như họ là những nhà lãnh đạo hiệu quả. Trong một địa hạt rõ ràng dành cho nam giới, nếu phụ nữ thể hiện hay áp dụng phong cách lãnh đạo cứng rắn, họ sẽ không được ủng hộ.



Mọi người thường không nghe hay tuân theo hướng dẫn từ phụ nữ một cách thoải mái như từ nam giới



Mô hình cổ điển cho rằng phụ nữ nói nhiều hơn nam giới đã được chứng minh là sai lầm. Tuy nhiên mọi người vẫn cho rằng khả năng thuyết phục trôi chảy của phụ nữ chẳng chứng minh cho cái gì cả. Và phụ nữ thường cảm thấy họ không được lắng nghe, khi họ phát biểu trong cuộc họp hay những đề xuất của họ bị lờ đi hay bị coi nhẹ - trong khi những câu nói hay đề xuất tương tự như thế từ nam giới lại có ảnh hưởng hơn.



Nói có sách, mách có chứng. Hai nhà nghiên cứu đã thử nghiệm cho phụ nữ và đàn ông điều khiển một nhóm người độ tuổi trung niên bằng cách đưa ra những đề xuất, thậm chí từ ngữ giống nhau. Kết quả là các thành viên trong nhóm phản ứng với nam lãnh đạo với sự tập trung, những cái gật đầu và những nụ cười; họ phản ứng với nữ lãnh đạo là nhìn đi chỗ khác và ngáp ngắn ngáp dài. Hơn nữa, những thành viên trong các nhóm này không hề nhận thức ra rằng mình đang phân biệt đối xử với những người giữ vai trò lãnh đạo là nam giới hay nữ giới. Trường hợp này không chỉ xảy ra khi thí nghiệm, nó chính là đời thường: một nghiên cứu về các cuộc họp nhóm nhỏ trong các tổ chức chỉ ra rằng nữ lãnh đạo thường là mục tiêu của những cảm giác tiêu cực hơn là nam lãnh đạo, thậm chí khi cả hai nhà lãnh đạo đều được coi là có khả năng như nhau.



Phụ nữ tự ứng cử bản thân và thể hiện khả năng của họ chỉ nhận được sự bất đồng



Bởi họ bị nhìn nhận là ít khả năng hơn nam giới, những phụ nữ có thể trở thành lãnh đạo trong tương lai đôi khi được khuyên là phải tránh thể hiện sự khiêm tốn nữ tính và biết tự tiến cử bản thân, điểm mạnh và thành tích của mình. Tuy nhiên, tự tiến cử bản thân có thể rất nguy hiểm cho phụ nữ. Như đã nói ở trên, phụ nữ mà tự tin và mạnh mẽ hơn thông thường sẽ có nguy cơ không được tán thành.



Nghiên cứu cho thấy khi phụ nữ thể hiện những thành tựu của họ, người nghe sẽ thấy họ có khả năng hơn, nhưng cũng đồng nghĩa họ sẽ phải trả giá là không được ưa thích. Đàn ông tự giới thiệu thành tích của mình không phải đối mặt với thế lưỡng nan này: miễn là họ không nói đi nói lại, tự quảng bá bản thân sẽ làm họ được đánh giá là có khả năng và được ngưỡng mộ.




Phụ nữ cần nhiều sự chấp nhận từ bên ngoài hơn đàn ông để được nhìn nhận là lãnh đạo trong một số bối cảnh



Đặt trong vấn đề đã được nói đến từ trước, không có gì ngạc nhiên khi biết rằng: để cho phụ nữ được chấp nhận trong vai trò lãnh đạo, họ thường phải có những sự hỗ trợ từ bên ngoài. Đặt biệt trong những bối cảnh cạnh tranh và bị thống trị bởi đàn ông, chỉ đơn giản được đào tạo để lãnh đạo hay có chuyên môn không đảm bảo cho sự thành công của phụ nữ trừ khi họ có được sự tán thành của một người lãnh đạo cấp trên khác. Những quan niệm về giới ảnh hưởng đến khả năng người khác nhìn nhận sự hiệu quả của phụ nữ; đôi khi cần thiết có sự tán đồng từ bên trên để phụ nữ dành được sự tin tưởng.



Phản ứng lại với những phản ứng: Phụ nữ cảm thấy vai trò lãnh đạo như thế nào?



Có nhiều minh chứng cho thấy phụ nữ phải cảnh giác nhiều hơn nam giới về cái giá phải trả của việc lãnh đạo. Phụ nữ lo lắng về sự chênh giữa thái độ nữ giới được chấp nhận và những yêu cầu của một vị trí quyền lực. Một số phụ nữ trẻ được hỏi tưởng tượng bản thân trong những vị trí đầy quyền lực thường ít hơn nam giới. Một vài phụ nữ tự miêu tả mình ít có khả năng trong những vị trí đó, sử dụng một số từ như là “thống trị, hung hăng”, “thiên kiến”, “đói khát quyền lực”, “ích kỷ”, “cao ngạo, thích chỉ đạo và hung hăng”. Rõ ràng, họ nhận ra rằng gần như không thể duy trì một hình ảnh mềm mại bao trùm bởi một bầu không khí đầy quyền lực, quyết tâm và cạnh tranh cần thiết để thuyết phục người khác rằng họ có thể có khả năng lãnh đạo mạnh mẽ.



Những người phụ nữ đã ở vị trí lãnh đạo – mặc dù trong bối cảnh bị thống trị bởi nam giới – và họ nhận thức chính xác về con đường hạn hẹp họ phải đi, họ tìm được những đền đáp xứng đáng cho vai trò của mình: Một cảm giác mình có khả năng và ảnh hưởng tích cực và cơ hội tiếp sức mạnh cho những người khác. Họ nói: những phần thưởng này đền bù cho những yêu cầu nặng nề và hết sức cẩn trọng mà họ bị đòi hỏi trong những kì vọng trái ngược với vị trí lãnh đạo dành cho họ. Tuy nhiên, chưa ai có thể nói bao nhiêu phụ nữ đã đến được vị trí đó – thì họ đã không còn khát vọng lãnh đạo bởi quá nhiều khó khăn và quá nhiều cái giá phải trả.



Một hệ thống xã hội thay đổi sẽ thay đổi những phản ứng từ của mọi người



Một nghiên cứu thực hiện bằng những cuộc phỏng vấn những nữ lãnh đạo tại Pháp và Na-uy chứng minh nhiều năm trước đây rằng hoàn cảnh có thể tạo ra tất cả các kinh nghiệm lãnh đạo khác nhau. Phụ nữ Na-uy thể hiện sự vui vẻ và yêu thích trong vai trò lãnh đạo của mình; phụ nữ Pháp ngược lại nói về những khó khăn, xung đột, cô đơn và xa cách. Những trải nghiệm khác nhau này thể hiện sự tương phản trong mối liên hệ về quan niệm khác nhau của phụ nữ về sự chấp nhận họ trong vị trí lãnh đạo. Ở Na-uy, với lịch sử bắt nguồn từ lâu đời về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo chính trị, phụ nữ trong những vai trò đó cảm thấy họ được thừa nhận trong vai trò lãnh đạo của mình. Trong khi ở Pháp, nơi nữ lãnh đạo là tương đối mới mẻ và hiếm có, họ ít cảm thấy sự thừa nhận của mọi người, và họ liên tục phải chứng minh bản thân mình.
Nghiên cứu cho thấy, hoàn cảnh tạo nên sự khác biệt trên con đường mà mỗi phụ nữ đến với vị trí lãnh đạo, hiệu quả lãnh đạo mà họ được người khác công nhận, và cả những khó khăn mà họ phải đối mặt. Phụ nữ phải đối mặt với sự "phản kháng" mà người khác dành cho vị trí lãnh đạo của họ, cũng như tầm ảnh hưởng của họ trong các địa hạt (vốn được cho là) do nam giới thống trị. Khi thái độ của xã hội đã chuyển hóa, những lĩnh vực chỉ dành cho phái mạnh trở nên thu hẹp, sự thừa nhận dành cho nữ lãnh đạo trong các địa hạt này cũng tăng lên.



Kết luận

Tại Hoa Kỳ, không còn ai ngạc nhiên hay thấy vô lý khi nhìn thấy một phụ nữ là hiệu trưởng trường cấp ba, giám đốc một tập đoàn, trưởng khoa trường đại học, hay là người chủ chốt tại một đài phát thanh. Phụ nữ đã và đang xé bỏ những hàng rào đến những vị trí này cùng lúc với sự nới lỏng hơn trong thái độ của xã hội với những vấn đề về giới cũng như là sự thay đổi trong quan niệm thông thường về yêu cầu cho lãnh đạo. Tuy nhiên trong một số bối cảnh (như là trong quân đội, văn phòng tổ chức cao, vị trí tổng thống) vẫn có những quan niệm đại chúng đòi hỏi những phẩm chất của phái mạnh, phụ nữ đối mặt với những rào cản bắt nguồn từ những khó khăn trong việc đồng thời chuyển hóa và tuân theo cái gọi là "chuẩn mực giới". Cho dù chúng ta có hiểu biết về những rào cản này, cách duy nhất để phá bỏ những rảo cản là cần một số phụ nữ thông minh, quyết tâm và không ngần ngại đầu tiên để nhảy múa, chế giễu và phá bỏ chúng.



Chúng ta có các phương cách cho cả các tổ chức và cá nhân để hỗ trợ phụ nữ, và do đó hỗ trợ tiến trình hình thành một hệ thống xã hội trong đó phụ nữ lãnh đạo trở thành chuyện bình thường thậm chí trong cả những bối cảnh được coi là dành riêng cho nam giới. Các tổ chức có thể cố gắng tránh biệt lập phụ nữ trong những bộ phận chuyên dành cho nam giới, nơi mà giới tính trở thành nguyên nhân đầu tiên cho bất kì một quyết định sai lầm nào. Những nhà lãnh đạo cấp trên có thể ủng hộ và tạo điều kiện cho những phụ nữ tìm kiếm hoặc muốn vươn lên vị trí lãnh đạo. Người tạo ra được dư luận như là nhà báo có thể cải tạo độ nhạy cảm và khả năng họ tạo ra những tiêu chuẩn mới về sự ưa chuộng hay các phẩm chất khác khi họ công khai bình luận về các nhà lãnh đạo nam nữ. Trong tư cách là cá nhân, chúng ta có thể xem xét những bình luận của mình dành cho nữ lãnh đạo bằng những dấu hiệu mà chúng ta cho rằng không thể - dùng để áp đặt lên nữ lãnh đạo.



Từ những người đầu tiên, sau đó là nhiều phụ nữ khác đi theo, cùng vượt qua hàng rào ngăn cách, điều đó cuối cùng sẽ trở nên bình thường khi phụ nữ nắm giữ vai trò lãnh đạo trong những bối cảnh từng được quan niệm chỉ dành cho nam giới. Sự rất thông thường đó sẽ thay đổi quan niệm công chúng về giới và lãnh đạo, dần dần tái định hình cấu trúc xã hội trước đây đã tạo ra những quan niệm. Sự thay đổi trong khả năng tiếp cận của nữ giới với vai trò lãnh đạo trong vòng vài thập kỉ gần đây là một điều cần thiết, nhưng chưa đủ để tạo ra một xã hội mà nam giới bình đẳng với phụ nữ trước những thử thách và cơ hội liên quan đến vị trí lãnh đạo.



Hilary M. Lips - Tiến sỹ tại Trường Đại Học Radford


Ngọc Trâm biên dịch






(http://www.lanhdao.net/vn/kynangld/phamchatld/123883/index.aspx)

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

Philip C. Jessup International Law Moot Court Competition







Philip C. Jessup International Law Moot Court Competition là cuộc thi Diễn án Luật quốc tế lớn nhất thế giới được tổ chức hàng năm từ năm 1959 tại Hoa Kỳ với sự tham gia của hơn 500 trường Đại học Luật tại hơn 80 quốc gia trên thế giới. Các thí sinh dự thi đóng vai trò biện hộ cho các quốc gia là các bên của tranh chấp quốc tế giả định được đưa ra trước Toà án Quốc tế La Haye (mỗi nhóm phải đóng vai luật sự biện hộ cho cả hai bên và phải chuẩn bị các bản đệ trình và phần biện luận miệng). Nội dung vụ tranh chấp (đề thi) được các chuyên gia luật quốc tế uy tín hàng đầu thế giới soạn thảo. Các đội phải tham gia vòng loại ở cấp quốc gia (National Round) trước khi được chọn là đại diện ưu tú của quốc gia tham dự cuộc thi chung kết tại Hoa Kỳ.






Đội Việt Nam gồm bốn sinh viên Học viện Ngoại giao năm 2009 Nguyễn Ngọc Lan, Phạm Văn Trung, Phạm Bá Việt và Trần Hoàng Yến đã tham gia cuộc thi Phiên tòa giả định luật quốc tế Philip C. Jessup 2009 tại Washington (Mỹ) từ ngày 23 đến ngày 27/3.. Năm nay đề thi liên quan tới khái niệm can thiệp nhân đạo, trách nhiệm bảo vệ, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, trách nhiệm của Liên hợp quốc và quốc gia trong các hoạt động gìn giữ hòa bình.Các đội vào vòng trong thường thắng hết cả 4 trận thi đấu ở vòng loại và có điểm thi bài viết và nói rất cao do đã được thử thách qua nhiều trận đấu. Nhiều trường luật trên thế giới đã tham dự cuộc thi Jessup từ những lần tổ chức đầu tiên (50 năm trước); trong khi đó, Việt Nam mới tham dự 3 lần và chỉ có đội thi từ Học viện Ngoại giao có khả năng viết bài và tranh tụng bằng tiếng Anh về những vấn đề phức tạp, chuyên sâu của luật quốc tế.






Cuộc thi Phiên tòa Giả định luật quốc tế Philip C. Jessup năm nay có 102 đội đến từ hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham gia. Đây là cuộc thi lớn nhất và có uy tín nhất với sự tham gia của nhiều trường luật trên thế giới, tổ chức mỗi năm một lần gồm hai vòng quốc gia và quốc tế. Những đội thắng trong vòng quốc gia sẽ dự thi vòng quốc tế tại Washington vào tháng 3 hoặc tháng 4 hàng năm. Tại vòng này, tất cả các đội sẽ trình bày bài tranh tụng của mình trước Hội đồng Thẩm phán. Chủ đề của cuộc thi thường liên quan tới các vấn đề thời sự trong luật quốc tế đang gây nhiều tranh cãi. Do tính cạnh tranh cao trong các cuộc thi luật quốc tế Jessup, mục tiêu của đội Việt Nam trong những năm tới là thắng nhiều trận hơn ở vòng loại và điểm bài thi viết và thi nói của từng sinh viên ngày càng cao hơn.Song, điều quan trọng, các sinh viên, giảng viên, chuyên gia luật quốc tế của Việt Nam tham gia huấn luyện hay dự thi đều thu nhận thêm nhiều kiến thức, kỹ năng cần thiết và quý báu trong các công việc cần sử dụng luật quốc tế, đặc biệt khi cần phải bảo vệ lợi ích quốc gia. Các kỹ năng quan trọng nhất bao gồm cách thức viết bản tranh tụng và cách trình bày, thuyết phục tòa khi biện hộ trước tòa để có được một phán quyết có lợi cho mình đều được nâng cao.Bởi vậy, những cuộc thi như Jessup sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu về luật quốc tế tại Việt Nam để theo kịp với trình độ của khu vực và quốc tế. Các hình thức học qua phiên tòa giả định rất bổ ích nhưng còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam.Trở ngại chính đối với các đội thi Việt Nam là vấn đề tài chính. Năm nay, đội Việt Nam đã nhận được tài trợ của một số công ty, tổ chức Việt kiều tại khu vực thủ đô Washington, các công ty Mỹ SSA Marine, Allens Arthur Robinson và Baker & McKenzie cũng như sự hỗ trợ nhiệt tình của Đại Sứ quán Việt Nam tại Mỹ./.






Phấn đấu vì một Jessup trong tương lai!

KHOẢNG CÁCH GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN - ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

ĐỖ VĂN ĐẠI*
*TS. luật học, Giảng viên Trường Đại học Paris 13, Cộng hòa Pháp

Trong khi soạn cuốn sách Tư pháp quốc tế[1], chúng tôi thấy có nhiều khác biệt giữa kiến thức ở nhà trường và thực tiễn pháp lý. Hiện nay chúng tôi đang soạn thảo cuốn sách Luật hợp đồng Việt Nam, sau khi tham khảo tài liệu dành cho sinh viên cũng như phân tích hơn 500 bản án của Tòa án Việt Nam, chúng tôi lại thấy khoảng cách giữa thực tiễn và nhà trường là rất lớn. Sự khác đó không có lợi cho sinh viên, nguồn nhân lực quan trọng của ngành luật. Do đó, chúng tôi mạnh dạn đề cập đến vấn đề này để cùng nhau trao đổi. Trước khi đi tìm những nguyên nhân và hướng giải quyết (II), chúng tôi xin đưa ra một số thông tin về khoảng cách này (I).

I. Thực tế về khoảng cách giữa nhà trường và thực tiễn pháp lý
Khoảng cách giữa những thông tin “hàn lâm” và thông tin thực tiễn là rất lớn. Ở đây, chúng tôi chỉ dẫn một ví dụ cụ thể để minh họa. Đây là ví dụ liên quan đến hậu quả của việc hết thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực hợp đồng.

A. Hậu quả của việc hết thời hiệu trong giảng đường
Vấn đề thời hiệu không hoàn toàn mới trong pháp luật Việt Nam. Các nhà cổ luật Việt Nam đã từng đề cập đến vấn đề này. Chẳng hạn, theo Điều 588 Bộ luật Hồng Đức, “mắc nợ mà quá hạn không trả thì xử tội trượng, tùy theo nặng hay nhẹ; nếu cự tuyệt không chịu trả, thì xử biếm hai tư, bồi thường gấp đôi. Quá niên hạn mà không đòi thì mất nợ (hạn định là đối với người trong họ thì 30 năm, người ngoài thì hạn 20 năm)”. Ngày nay, BLDS quy định bốn loại thời hiệu, đó là thời hiệu hưởng quyền dân sự; thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự; thời hiệu khởi kiện; thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến thời hiệu khởi kiện. Theo quy định tại khoản 3 Điều 155 BLDS thì “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm;...”. Nếu hết thời hiệu khởi kiện thì hậu quả pháp lý sẽ như thế nào trong tranh chấp về hợp đồng?
Trước khi trả lời câu hỏi vừa nêu thiết nghĩ nên làm rõ khái niệm quyền yêu cầu Tòa án can thiệp. Quyền này phát sinh từ quyền mà một bên được yêu cầu bên kia thực hiện (quyền nội dung). Ví dụ, quyền một bên yêu cầu Tòa án buộc bên kia thanh toán một khoản tiền phát sinh từ quyền bên này được yêu cầu bên kia thanh toán khoản tiền trên. Chẳng hạn, A cho B vay 100 triệu đồng. Vậy A có quyền yêu cầu B thanh toán khoản tiền này và quyền này làm phát sinh quyền của A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc B thanh toán. Khi hết thời hiệu khởi kiện, thì quyền khởi kiện (tức quyền yêu cầu Tòa án can thiệp) chấm dứt. Bởi vì theo khoản 3 Điều 155 BLDS, “thời hiệu khởi kiện là thời hạn (...); nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”. Một vấn đề đặt ra là liệu việc mất quyền yêu cầu Tòa án có dẫn đến mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu Tòa án không? Theo Giáo trình của Trường đại học Luật Hà Nội, “trong thời hạn do pháp luật quy định, người có quyền không khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết thì khi hết thời hạn đó, nghĩa vụ dân sự đương nhiên chấm dứt dù người có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa vụ đó”[2]. Như vậy, theo Giáo trình của Trường đại học Luật Hà Nội, khi “hết thời hiệu” thì “nghĩa vụ đương nhiên chấm dứt”. Áp dụng quan điểm này vào ví dụ nêu trên thì khi hết thời hiệu A sẽ không những mất quyền yêu cầu Tòa án can thiệp mà còn mất cả món nợ 100 triệu vì nghĩa vụ trả nợ này đã chấm dứt. Đó là thông tin mà chúng ta thấy từ nhà trường dành cho sinh viên. Thế còn thực tiễn pháp lý ở Việt Nam thì sao? Ví dụ sau đây cho thấy rõ câu hỏi này[3].

B. Hậu quả của việc hết thời hiệu trong thực tiễn pháp lý
Ngày 20/12/1995 vợ chồng bà Bé có làm tờ thế chấp tài sản để vay vốn với nội dung: Đồng ý thế chấp một căn nhà để vay 178 triệu đồng với lãi suất là 3%/tháng thời hạn trả hết tháng 12/1996 (âm lịch). Đến năm 2002, hai bên có tranh chấp và yêu cầu Tòa án can thiệp. Tại bản án sơ thẩm số 119/DSST ngày 15/10/2002, Tòa án huyện S đã nhận định: “kể từ năm 1997 đến nay bà Xuân không còn chứng cứ nào khác để chứng minh do khách quan nên không thể đòi số nợ trên, từ đó căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 tại điểm b khoản 3 và điểm a khoản 6, khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 thì thời hiệu khởi kiện đã hết, bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên vụ kiện sẽ được đình chỉ theo quy định của pháp luật”. Tại quyết định giám đốc thẩm số 136 ngày 18/11/2004, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét “hợp đồng vay nợ giữa bà Xuân với vợ chồng bà Bé được xác lập ngày 20/12/1995 thời hạn thanh toán hết tháng 12/1996 (âm lịch). Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy định: Trong thời hạn ba năm, kể từ thời điểm xảy ra vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền khởi kiện trước Tòa án, nếu pháp luật không có quy định nào khác. Quá thời hạn này, bên bị vi phạm mất quyền khởi kiện. Đến năm 2002 bà Xuân mới khởi kiện đòi nợ vợ chồng bà Bé là đã quá thời hạn khởi kiện. Về phía bà Xuân không chứng minh được từ thời điểm bên vay tiền vi phạm hợp đồng (tháng 12/1996 âm lịch) đến năm 2002 giữa hai bên có thoả thuận kéo dài thêm thời hạn trả nợ nên không có cơ sở để tính lại thời hiệu. Do đó, tại bản án sơ thẩm số 119 ngày 15/10/2002, Tòa án nhân dân huyện S đã xác định bà Xuân hết quyền khởi kiện và đình chỉ giải quyết vụ kiện là đúng pháp luật”.
Như vậy, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, khi hết thời hiệu khởi kiện, bên có quyền mất quyền yêu cầu Tòa án can thiệp bảo vệ. Liên quan đến món nợ thì sao? Trong tranh chấp giữa bà Bé và bà Xuân, bên cạnh việc xét rằng bà Xuân mất quyền khởi kiện, Tòa sơ thẩm còn nêu “bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên mặc nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ đã vay”. Như vậy, theo Tòa sơ thẩm, việc mất quyền yêu cầu Tòa án do hết thời hiệu khởi kiện làm mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu này. Cụ thể là, theo Tòa sơ thẩm, việc mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết do hết thời hiệu làm biến mất nghĩa vụ thanh toán nợ của bà Bé. Giải pháp của Tòa sơ thẩm đã không được Chánh án Tòa án tối cao chấp nhận. Trong kháng nghị số 72/KNDS ngày 03/9/2004, Chánh án Tòa án tối cao có nêu rằng việc giải quyết như trên “là không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ xác định hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án không thụ lý giải quyết”. Quan điểm trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã được Tòa dân sự Tòa án tối cao chấp nhận. Tại quyết định giám đốc thẩm số 136 ngày 18/11/2004 Toà dân sự Tòa án nhân dân tối cao nhận định: “Tòa án cấp sơ thẩm tuy đã đình chỉ việc giải quyết vụ kiện là đúng pháp luật nhưng trong phần nhận định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bà Xuân đã mất quyền khởi kiện nên mặc nhiên bà Bé không còn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ đã vay là không chính xác, vì pháp luật hiện hành chỉ xác định hết thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án không thụ lý giải quyết”.
Như vậy, trong lĩnh vực hợp đồng, theo thực tiễn pháp lý Việt Nam, việc mất quyền khởi kiện không dẫn đến mất quyền làm phát sinh quyền yêu cầu Tòa án. Điều đó cho thấy rằng thực tiễn pháp lý và giảng đường là rất khác nhau. Với giải pháp trên, thực tiễn pháp lý Việt Nam làm cho pháp luật Việt Nam phù hợp với pháp luật nhiều nước trên thế giới. Theo pháp luật Đức, khi thời hiệu khởi kiện hết, quyền làm phát sinh quyền yêu cầu Tòa án không chấm dứt. Tương tự như vậy theo pháp luật của Hy Lạp, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Ailen, Bồ Đào Nha. Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế mà chúng tôi đề cập ở trên cũng quy định như vậy: theo khoản 1 Điều 10.9, “việc hết thời hiệu không chấm dứt quyền”. Giải pháp này dẫn đến hậu quả là nếu tự bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì không được đòi lại. Trong ví dụ trên, nếu bà Bé tự thanh toán cho bà Xuân mặc dù thời hiệu đã hết thì không được đòi lại khoản thanh toán đó. Vì quyền đó vẫn tồn tại nên bên có quyền vẫn có thể sử dụng để bù trừ với nghĩa vụ của mình với bên kia. Ví dụ nếu bà Xuân cũng phải trả bà Bé một khoản tiền thì bà Xuân có thể sử dụng khoản tiền mà mình cho vay để bù trừ với món nợ mà mình phải trả cho bà Bé.

II. Nguyên nhân và phương hướng giải quyết
Nguyên nhân của sự khác biệt giữa giảng đường và thực tiễn pháp lý có thể xuất phát từ phía những nhà thực tiễn cũng như từ phía đội ngũ giảng viên hiện nay.

A. Nhìn từ phía nhà thực tiễn
Khác với nhiều hệ thống pháp luật, ở nước ta hiện nay thông tin về thực tiễn pháp lý còn rất hạn chế. Ngoài một số thông tư mà cơ quan tố tụng cho công bố, rất ít thông tin thực tiễn được truyền tải ra ngoài. Rất ít bản án của Tòa án tối cao cũng như Tòa án địa phương được công bố. Bên cạnh đó, việc tham gia của những nhà thực tiễn trong các cuộc trao đổi pháp lý với phía nhà trường không nhiều. Chính vì lý do này mà kiến thức về thực tiễn của những người không “trong cuộc” là rất hạn chế. Vì vậy, để giảm bớt khoảng cách giữa thực tiễn và nơi đào tạo nhân lực cho ngành luật, thông tin từ thực tiễn nên được chính những nhà thực tiễn tạo điều kiện cho người ngoài cuộc tiếp cận.
Một số bản án của Tòa án Việt Nam đã được công bố và bình luận trên các Tạp chí pháp lý. Bản thân Tòa án tối cao đã cho phát hành hai cuốn về Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hiện nay, Tòa án tối cao đang tiếp tục thực hiện cho phát hành những ấn phẩm tương tự. Tuy nhiên, số lượng bản án được công bố trong những ấn phẩm vừa nêu chủ yếu là của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao. Các bản án của các Tòa chuyên trách như Tòa dân sự, Tòa hình sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động chưa được công bố một cách phổ biến. Các bản án của ba Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao cũng như bản án sơ, phúc thẩm của các Tòa địa phương gần như không được biết đến. Thiết nghĩ, để giảm bớt khoảng cách giữa nhà trường và Tòa án, phía những nhà thực tiễn nên tạo điều kiện cho giảng viên, sinh viên luật tiếp cận những thông tin thực tiễn và nghĩ tới những phương tiện truyền tải thông tin mới. Ví dụ, Tòa án tối cao nên công bố đều đặn những bản án giám đốc thẩm dưới dạng giấy truyền thống hoặc qua mạng Internet.

B. Nhìn từ phía nhà trường
Hiện nay dường như các cơ sở đào tạo luật đều dạy luật trên góc độ văn bản. Chủ yếu là trích dẫn văn bản pháp luật với một số bình luận. Đội ngũ giảng viên chưa được trang bị một cách chu đáo về phương pháp tiếp cận, khai thác thông tin thực tiễn. Chẳng hạn, họ chưa có thói quen sưu tầm cũng như khai thác các bản án và do đó sinh viên không có đầy đủ điều kiện để “ăn nhập” với kiến thức thực tiễn. Tòa án nhân dân tối cao đã cho công bố hai cuốn về những Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán nhưng hiện nay hai cuốn này rất ít được các nhà sư phạm khai thác. Đây là một điều đáng tiếc. Trước đây, nhiều giảng viên cho rằng họ không thể có thông tin thực tiễn, do đó việc họ không truyền đạt cho sinh viên thông tin đó cũng như không thể chỉ dẫn cho sinh viên phương pháp tiếp cận và khai thác những bản án. Ngày nay, cách trả lời đó không còn phù hợp nữa. Những Quyết định trên, mặc dù chưa nhiều, nhưng đều là những quyết định tiềm ẩn những vấn đề pháp lý quan trọng. Thiết nghĩ, để giảm bớt khoảng cách giữa thực tiễn và nhà trường, bản thân những người làm thầy cũng nên cố gắng tiếp cận, sưu tập, khai thác những thông tin thực tiễn.
Có thể có người cho rằng không nên truyền tải những thông tin thực tiễn vì chất lượng giải quyết những tranh chấp hiện nay tại các Tòa án còn kém, nhiều sai sót và đôi khi không đúng. Thiết nghĩ, quan điểm như vậy là không thuyết phục. Bởi thứ nhất, không phải giải pháp nào của Tòa án cũng là sai sót, không đúng. Rất nhiều giải pháp của Tòa án được đưa ra rất thuyết phục khi văn bản pháp luật không đầy đủ. Thứ hai, chúng ta không nên loại trừ một cách cực đoan các giải pháp tiềm ẩn trong các quyết định của Tòa án. Không nên chỉ truyền đạt những gì mà mình cho là đúng. Nhà trường không thể quyết định được cái gì đúng, cái gì sai. Nhà trường nên hướng cho sinh viên biết tư duy để biết đánh giá vấn đề. Vì vậy, mọi thông tin thực tiễn không những không nên hạn chế trong giảng đường mà còn khuyến khích học sinh tiếp cận vì khoa học pháp lý là khoa học tương đối trừu tượng nhưng lại là khoa học rất thực tiễn. Hàng ngày trong đời sống xảy ra tranh chấp và hàng ngày Tòa án phải áp dụng pháp luật để giải quyết. Giảng viên hoàn toàn có thể cho quan điểm của mình là giải pháp của Tòa A hay Tòa B là sai theo cách đánh giá của họ nhưng không nên vì họ cho là không hợp lý mà không truyền tải thông tin cho sinh viên.
Về phương pháp đào tạo, cách đây không lâu Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo có nêu rõ rằng “nhìn chung trình độ của giảng viên đại học của nước ta thấp trong tương quan với các nước trên thế giới, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học” và “đây là mặt yếu khá cơ bản, rất đáng quan tâm đối với đội ngũ giảng viên đại học cũng nhưng các trường đại học ở nước ta”[4]. Thiết nghĩ, cũng đến lúc chúng ta tìm kiếm, bổ sung phương pháp đào tạo để cải thiện chất lượng sinh viên trong lĩnh vực luật. Chúng ta đang quyết tâm “không” với nhiều vấn đề của giáo dục nhưng chúng ta cũng nên quyết tâm “có” với nhưng phương pháp đào tạo mới. Sau ba năm tham gia giảng dạy cao học luật ở Việt Nam và có nhiều dịp tiếp xúc với nghiên cứu sinh Việt Nam (được đào tạo cơ bản trong nước), chúng tôi thấy rằng kỹ năng phân tích, hiểu bản án của sinh viên là rất thấp chứ chưa nói đến kỹ năng bình luận án. Vì vậy, nhà trường nên bổ sung phương pháp, tạo điều kiện cho sinh viên biết những kỹ năng này. Những Quyết định giám đốc thẩm mà Tòa án tối cao công bố là một tài sản quý báu cho việc tiếp cận những phương pháp này. Trong thời gian giảng dạy cao học ở Hà Nội, chúng tôi có cho sinh viên tiếp cận, phân tích và đôi khi bình luận bản án của Tòa án Việt Nam thì kinh nghiệm cho thấy sinh viên tiếp thu rất nhanh và rất ham học hỏi. Bên cạnh việc phát huy những kỹ năng trên, chúng ta cũng nên tổ chức những buổi trao đổi giữa người làm thực tiễn và nhà trường. Việc này đóng vai trò không nhỏ trong việc giảm bớt sự khác biệt giữa giảng đường và thực tiễn. Hàng năm chúng ta gửi sinh viên đi thực tập hay buộc sinh viên làm luận văn. Chúng ta cũng nên hướng sinh viên tiếp cận pháp luật nhiều hơn từ góc độ thực tiễn.


Tóm lại, hiện nay giữa nhà trường và thực tiễn còn rất nhiều khoảng cách. Đây là một điều đáng tiếc. Nhà trường có chức năng đào tạo nhưng không phải đào tạo để cấp bằng cho sinh viên mà đào tạo một nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực pháp lý. Vì vậy, chúng ta nên kết hợp cả thực tiễn lẫn lý thuyết. Phía những người làm thực tiễn cũng nên tạo điều kiện cho nhà trường trong công việc tiếp cận thông tin. Tất cả hãy cùng nhau nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành luật.


[1] Xem Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia TP. HCM, 2006.
[2] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Công an nhân dân 2006, tr. 25.
[3] Về ví dụ này, xem thêm Đỗ Văn Đại và Đỗ Văn Hữu, “Hậu quả của việc hết thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực hợp đồng“, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Hiến kế lập pháp, số tháng 3/2006.[4] Xem bài “Yếu kém lớn nhất là phương pháp dạy học” tại http://dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/2006/11/151249 ngày 7/11/2006

TẠP CHÍ KHPL SỐ 3(40)/2007

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.Đặt vấn đề

Từ khi tiến hành đổi mới đến nay, trải qua hơn 20 năm, nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào các hoạt động kinh tế, văn hóa , chính trị quốc tế. Trong quá trình đó, chúng ta đã kí kết nhiều điều ước quốc tế (ĐƯQT) song phương, đa phương ( tính đến thời điểm tháng 4/2008, có khoảng 700 điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam [1]). Đặc biệt, với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO ngày 07/11/2006, dự báo sẽ có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các ĐƯQT mà Việt Nam tham gia ký kết, gia nhập. Do vậy, trách nhiệm của chúng ta là phải làm sao đảm bảo để các ĐƯQT được thực thi một cách tốt nhất. Muốn vậy, trước hết cần phải tạo sự hài hòa giữa nội luật với luật pháp quốc tế, điều đó có nghĩa là ta phải làm rõ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai phạm trù pháp luật này. Đây là một trong những đề tài gây ra nhiều tranh luận nhất trong giới luật gia Việt Nam hiện nay. Những vấn đề thường được đặt ra đó là: 1) Luật quốc gia và luật quốc tế nằm trong cùng một hệ thống pháp luật hay đó là hai hệ thống pháp luật độc lập; 2) Vị trí của các ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt; 3) Vấn đề về chuyển hóa và thực thi ĐƯQT ở Việt Nam hiện nay…

Bài viết này sẽ đưa ra một số phân tích và ý kiến về mấy vấn đề nêu trên.

2. Các quan điểm cơ bản về mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia
2.1. Nhất nguyên luận và Nhị nguyên luận

Liên quan đến vấn đề xác định mối tương quan giữa luật quốc tế và pháp luật quốc gia, có hai học thuyết cơ bản thường được viện dẫn đó là thuyết Nhị nguyên luận (Dualism) và thuyết Nhất nguyên luận (Monism). Các đại diện tiêu biểu cho thuyết Nhị nguyên luận là H.Triepel, D.A.Anzilotti… cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống hoàn toàn riêng biệt,“ không thể viện dẫn một điều ước quốc tế trước tòa án quốc gia, trừ khi điều ước đó đã được chuyển hóa vào bằng những quy định trong nước cụ thể”[2]. Trái ngược với thuyết Nhị nguyên, thuyết Nhất nguyên cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nằm trong cùng một hệ thống pháp luật. Những người theo học thuyết này lại chia thành hai phái:phái ưu tiên pháp luật quốc gia đặt chủ quyền quốc gia lên trên hết, theo đó luật quốc tế chỉ là một bộ phận đối ngoại của các quốc gia ; phái ưu tiên pháp luật quốc tế lại khẳng định luật quốc gia phải phụ thuộc vào luật quốc tế, trong trường hợp pháp luật quốc gia trái với luật pháp quốc tế thì pháp luật quốc gia sẽ bị coi là vô hiệu [3].

2.2. Các quan điểm khác

Hiện nay ngày càng có nhiều luật gia cũng như các chuyên gia về luật quốc tế không tán thành các nội dung của các thuyết nhất nguyên luận và thuyết nhị nguyên luận.

Theo thuyết Nhị nguyên luận, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là hai hệ thống hoàn toàn độc lập. Như vậy quan điểm này mâu thuẫn với thực tế: “đời sống quốc tế xây dựng trên cơ sở cởi mở hòa nhập với nhau chứ không trên cơ sở tách biệt với nhau”[4]. Hơn nữa “ yêu sách đòi đặt trật tự pháp luật chỉ ở cấp quốc gia ngang hàng với một trật tự pháp luật của toàn bộ nhân loại là một yêu sách thái quá ”[5].

Theo thuyết Nhất nguyên, nếu trật tự pháp luật quốc gia được đặt lên vị trí hàng đầu, tức là khi đó trật tự pháp luật của cả thế giới ở dưới một trật tự pháp luật mang tính quốc gia thì quả thật là phi logic. Còn nếu đặt trật tự pháp luật quốc tế lên trên thì sẽ đe dọa đến chủ quyền cũng như quyền dân tộc tự quyết của các quốc gia thành viên.

Có thể nói, hai hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều có vị trí “tối cao trong môi trường của mình”[6]. Luật quốc tế có chủ thể của riêng mình – các quốc gia và các tổ chức quốc tế. Luật quốc gia cũng vậy, chủ thể của nó là Nhà nước và các pháp nhân, cá nhân trên lãnh thổ đó. Bên cạnh tính độc lập tác động như vậy, luật quốc tế và luật quốc
gia cũng có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Một trong những biểu hiện của điều này đó là các ĐƯQT ngày càng trở thành một nguồn quan trọng của luật các quốc gia, đồng thời hướng luật quốc gia một số nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, phát triển theo chiều hướng tiến bộ. Chẳng hạn các ĐƯQT về nhân quyền đã tác động tích cực đến sự thay đổi pháp luật về nhân quyền ở các nước còn tồn tại chính sách phân biệt chủng tộc, giới tính…Ngược lại, cũng có rất nhiều quy phạm của luật quốc tế được xây dựng dựa trên các quy phạm pháp luật tiến bộ của một số quốc gia. VD: Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau có xuất phát điểm chính là từ nguyên tắc đối ngoại của Nhà nước tư sản Pháp ; Nguyên tắc dân tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, tuyên ngôn của phong trào không liên kết …có nền tảng là Sắc lệnh về hòa bình của Nhà nước Xô Viết…

Từ thực tế trên, các luật gia quốc tế về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia hiện nay cho rằng: luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật tồn tại song hành và có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó nhấn mạnh tính ưu thế của luật quốc tế so với luật quốc gia. Quan điểm này đảm bảo vững chắc hơn cho việc thực thi những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế cũng như độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia thành viên.

3.Vị trí của các ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam
3.1.Vai trò của ĐƯQT trong các quan hệ pháp luật ở Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, ĐƯQT là một trong những
công cụ hiệu quả nhất mà các quốc gia có thể sử dụng để thiết lập các quan hệ đối ngoại. Chính vì thế, trong pháp luật các nước nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng, ĐƯQT đóng một vai trò quan trọng và thường được ưu tiên áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột giữa các quy định của văn bản quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về cùng một vấn đề. Ngay từ cuối những năm 80 của thế kỉ trước, nguyên tắc ưu tiên áp dụng ĐƯQT so với nội luật đã được chính thức ghi nhận trong một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối ngoại của nước ta. Dần dần, nó đã trở thành nội dung không thể thiếu trong các văn bản quy phạm pháp luật ở tất cả các cấp độ luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật. Gần đây nhất, tại Khoản 1 Điều 6 của Luật Kí kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 có quy định: “Trong trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐƯQT”. Từ đây có thể hiểu “trong một chừng mực nhất định nào đó, Việt Nam thừa nhận luật pháp quốc tế như một nguồn luật nằm ngoài hệ thống pháp luật quốc gia, được ưu tiên bổ sung cho pháp luật quốc gia để giải quyết các vấn đề phát sinh trong tiến trình hội nhập, nhằm đảm bảo chuẩn mực quốc tế vẫn được tôn trọng một khi pháp luật quốc gia chưa thể tiếp cận pháp luật quốc tế”[7]. Điều này đã được tái khẳng định trong báo cáo của Bộ ngoại giao về dự thảo Luật kí kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT: một trong những “mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010” là phải gắn kết được kế hoạch kí kết, gia nhập ĐƯQT với chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhằm có được một hệ thống pháp luật thống nhất, phát triển[8].

3.2.Vấn đề xác định vị trí pháp lý của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Xu hướng chung của pháp luật hầu hết các nước là thừa nhận tính ưu thế và ưu tiên thực hiện ĐƯQT, tuy nhiên không để bị phụ thuộc vào ĐƯQT để đảm bảo độc lập chủ quyền và các quyền dân tộc tự quyết khác. Do đó, luật pháp một số nước coi ĐƯQT có vị trí cao hơn luật và duới Hiến pháp. Vậy ở Việt Nam hiện nay, vị trí pháp lí của ĐƯQT được xác định như thế nào?

Nhìn chung về hệ thống pháp luật Viêt Nam, hiện nay, địa vị pháp lý của ĐƯQT mới chỉ được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật chứ chưa được xác định rõ trong Hiến pháp 1992 ( đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) hay bất kỳ văn bản pháp luật có hiệu lực cao nào. Về tương quan giữa ĐƯQT và luật, công thức chung của hầu hết các văn bản pháp luật trong thời gian gần đây đó là văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng cho mọi cá nhân, tổchức Việt Nam và nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng “trong
trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của ĐƯQT đó”. Mặc dù các văn bản pháp luật quy định nguyên tắc “ưu tiên” áp dụng ĐƯQT khi có điều khoản khác quy định của nội
luật nhưng đây chưa phải là điều khoản xác định vị trí của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Về mối tương quan của ĐƯQT so với Hiến pháp cũng chưa có quy định chính thức nào mà chỉ nêu:

ĐƯQT được ký kết, gia nhập và thực hiện trên cơ sở tuân thủ những
nguyên tắc sau:
1…….
2. P hù hợp với các quy định của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
…….”[9]

Do vậy, việc có một số ý kiến cho rằng “ ĐƯQT có vị trí dưới Hiến pháp và trên luật và các văn bản dưới luật”, theo ý kiến chủ quan của cá nhân tôi là chưa có đầy đủ căn cứ để đi đến kết luân. Tiếp tục đặt vấn đề xem xét vị trí của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam vào thời điểm hiện nay xem ra không phải là vấn đề cần thiết nhất và e rằng sẽ gây ra những tranh cãi không đáng có. Bởi một khi Nhà nước đã ký kết các ĐƯQT tức là đã trải qua một quá trình thẩm định tính hợp hiến của nội dung điều ước đó rồi, cho nên sẽ phải bằng những phương tiện sẵn có của mình thực hiện các cam kết đã ký [10]. Hơn nữa, với việc trở thành thành viên chính thức của Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ngày 10/10/2001, Việt Nam đã thừa nhận nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế ( tiếng la-tin là pacta sunt servanda) được quy định tại Điều 26 của Công ước này: “Mọi điều ước
đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành với thiện ý”. Đồng thời, tại Điều 27 của Công ước cũng nêu ra quy tắc tôn trọng các cam kết. quốc tế của các quốc gia kết ước: “Một bên kết ước không thể viện dẫn những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lí do để không thi hành một điều ước mà mình đã kí” Chỉ với quy tắc này, pháp luật quốc tế đã gần như mặc định các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia phải tự điều chỉnh để thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết. Nênlàm thế nào để hài hòa các quy định của hai hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế mới là vấn đề tối quan trọng trong thời điểm hiện nay.

4. Một số vấn đề về thực thi ĐƯQT ở Việt Nam hiện nay
4.1. Cách thức áp dụng nội dung ĐƯQT vào thực tế pháp luật

Xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế, Nhà nước của mỗi quốc gia là thành viên của ĐƯQT đều có quyền hạn và trách nhiệm xác định cách thức thực thi các điều khoản của ĐƯQT trong phạm vi quyền lực pháp lý của mình. Hành vi này được các chuyên gia về luật quốc tế gọi là “chuyển hóa ĐƯQT vào luật quốc gia” ( với các tên gọi khác nhau: “incorporation”, “transformation”, “reception” )[11]. Thực tế thực thi ĐƯQT tại các quốc gia hiện nay thường tồn tại hai cách thức chuyển hóa ĐƯQT vào pháp luật quốc gia: chuyển hóa trực tiếp và chuyển hóa gián tiếp.

Trong pháp luật Việt Nam, tại Khoản 3 Điều 6 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 có quy định:

Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của ĐƯQT, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của ĐƯQT đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần ĐƯQT đó với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của ĐƯQT đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi,bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện ĐƯQT đó.”

Từ quy định này có thể thấy pháp luật Việt Nam thừa nhận hai cách thức áp dụng ĐƯQT vào thực tiễn pháp luật đó là: áp dụng trực tiếp và áp dụng gián tiếp.

Áp dụng trực tiếp có nghĩa là khi ĐƯQT đã được ký kết và có hiệu lực thì mọi cá nhân, tổ chức là đối tượng điều chỉnh của điều ước đó đều có nghĩa vụ thi hành và công dân. hoàn toàn có thể viện dẫn các quy định của ĐƯQT đó trước Tòa án để bảo vệ lợi ích chính đáng
của mình. Đây là cách thức thực thi ĐƯQT được áp dụng rộng rãi trong pháp luật các nước trên thế giới từ giữa thế kỉ XX nhưng cho đến nay hãy còn khá mới mẻ đối với pháp luật Việt Nam. Sở dĩ như vậy bởi lâu nay tâm lí chung của cả các cơ quan hữu quan và người dân
Việt Nam thường hiểu chưa đúng rằng pháp luật chỉ bao gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành chứ không bao gồm cả các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là hệ quả của công tác tuyên truyền các ĐƯQT còn chưa thực sự sâu rộng . Tuy nhiên trong thực tiễn cũng đã có một số quy định của ĐƯQT được áp dụng trực tiếp vào đời sống pháp luật. Chẳng hạn như trong Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO đã liệt kê các quy định liên quan đến nội dung cam kết được áp dụng trực tiếp của Việt Nam là: Luật doanh nghiệp, Luật luật sư, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh. Hoặc Hiệp định về thuế chẳng hạn, đây là loại hiệp định luôn có hiệu lực cao hơn nội luật và được áp dụng trực tiếp, bởi lẽ có hay không có hành vi chuyển hóa hầu như không có ý nghĩa thực tế trong trường hợp áp dụng mức thuế đã cam kết giữa các quốc gia.

Còn áp dụng gián tiếp là việc quốc gia thành viên ban hành một đạo luật để chuyển hóa các quy định của điều ước quốc tế vào nội luật. Trường hợp này xảy ra khi nội dung của ĐƯQT chưa đủ cụ thể, rõ ràng để có thể áp dụng trực tiếp vào thực tiễn pháp luật hoặc nội dụng điều ước đó có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong Hiến pháp. Cách thức này đã được tiến hành để chuyển hóa một số điều ước về quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự trong pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam; chuyển hóa nội dung Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào trong Luật Bình đẳng giới. Nhiều quy định của các ĐƯQT khác cũng đã được chuyển hóa thành các quy định trong các đạo luật của Việt Nam, nhất là từ khi chúng ta gia nhập WTO như: Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật cạnh tranh, Luật thương mại…có nhiều quy định tương thích với các quy định của Công ước BERN về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật, Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Pháp lệnh về công nhận và thi hành của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam hài hòa với các quy tắc của Công ước New York năm 1958…

Nếu như trước kia, việc chuyển hóa ĐƯQT vào pháp luật quốc gia còn chưa được quy định cụ thể, thì với việc Quốc hội thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005, vấn đề áp dụng trực tiếp ĐƯQT vào đời sống pháp luật đã chính thức được thừa nhận. Theo đó,trong trường hợp nọi dung của ĐƯQT đã cụ thể, rõ ràng, Nhà nước sẽ không cần phải thực hiện các thủ tục chuyển hóa ĐƯQT bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật truyền thống vừa phức tạp, vừa tốn kém, mà chỉ cần ra quyết định thừa nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của ĐƯQT đó để nội dung điều ước có thể đi vào thời kỳ thực hành[12].Điều này hứa hẹn đem đến những biến chuyển to lớn cho công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng như hiện nay.

4.2. Mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi ĐƯQT ở Việt Nam.
4.2.1. Mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi ĐƯQT

Để đi đến ký kết một ĐƯQT, Bộ Tư pháp đã phải tiến hành một quy trình thẩm định kỹ lưỡng về tính hợp hiến, mức độ tương thích các quy định pháp luật trong nước… Nhưng khi nội dung của điều ước được thi hành trong thực tiễn thì hoàn toàn vẫn có thể xảy ra mâu thuẫn giữa quy định của hai hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế. Thực tế này có thể là do tình trạng văn bản hướng dẫn thi hành có nội dung không thống nhất với văn bản được hướng dẫn dẫn đến làm vô hiệu hóa luật [13]. Thực trạng này thậm chí còn xảy ra ở cả các văn bản pháp luật trong nước! Nguyên nhân thứ hai có thể dẫn ra ở đây đó là trong quá trình giải thích luật mới phát hiện ra các mâu thuẫn có thể có nhưng chưa phát hiện được trong quá trình thẩm tra, phê duyệt [14].

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có nguy cơ phảiđối mặt với các ĐƯQT có nội dung trái Hiến pháp. Mà theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nội dung ĐƯQT mà Việt Nam ký kết phải “phù hợp với các quy định của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam” [15]. Theo đó, có thể hiểu, pháp luật Việt Nam không chấp nhận những điều khoản trong các điều ước có nội dung trái với Hiến pháp. Điều này xét về một phương diện nào đó hoàn toàn không có lợi cho các quan hệ ngoại giao của Việt Nam. Như vậy đòi hỏi chúng ta cần phải có cách xử lí khéo kéo cho vấn đề này để đảm bảo được các quyền tự chủ và dân tộc tự quyết mà vẫn thể hiện được chủ trương hội nhập quốc tế “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”[16].

4.2.2. Vấn đề giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi ĐƯQT.
Về vấn đề giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi ĐƯQT, trong pháp luật Việt Nam hiện nay mới chỉ có quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam là thành viên quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐƯQT” [17].Từ đây có thể đưa ra phương thức xử lí những điểm chưa thống nhất giữa ĐƯQT và các văn bản luật trong nước: để thực hiện điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong nội luật thì có thể áp dụng trực tiếp ĐƯQT đó mà không cần chuyển hóa nội dung điều ước vào pháp luật trong nước hoặc sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước cho phù hợp sau khi ĐƯQT có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên chỉ với quy định này thì chúng ta hãy còn bỏ ngỏ việc giải quyết mâu thuẫn phát sinh giữa ĐƯQT và Hiến pháp. Một số nước, trong đó tiêu biếu là Cộng hòa Pháp, đã đưa ra cách giải quyết tương đối linh hoạt cho vấn đề này: tiến hành sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với nội dung ĐƯQT mà Nhà nước tham gia kết ước[18]. Vậy nên chăng,ở Việt Nam, pháp luật cho phép đưa vào nội dung của điều ước những điều khoản có nội dung trái với Hiến pháp nhưng trước khi chấp nhận ràng buộc thì phải tiến hành sửa đổi Hiến pháp? Bởi cần phải lưu ý rằng: pháp luật quốc gia vẫn trong quá trình tiếp cận với luật pháp quốc tế, những quy định trong nội luật chưa hẳn lúc nào cũng là tối ưu, nhất là trong khi tình hình thế giới biến đổi không phải từng ngày mà từng giờ.

Bên cạnh giải pháp tình thế được đưa ra khi “việc đã rồi” như trên, về lâu dài, chúng ta cần tăng cường hơn nữa công tác chủ động nghiên cứu, phân tích ĐƯQT để xây có thể xây dựng các quy phạm pháp luật trên cơ sở tính đến ĐƯQT mà Việt Nam sắp hoặc có thể trở thành thành viên trong tương lai. Mong rằng Việt Nam sẽ sớm có được một hệ thống pháp luật tương đối phù hợp với chuẩn luật pháp quốc tế.

5.Kết luận
Nói chung, thật khó có thể đưa ra được một quan điểm hoàn toàn thỏa đáng về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia trong thời điểm hiện nay, khi mà luật pháp quốc gia còn chưa thực sự có được những quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề này, và giới luật gia hãy còn nhiều tranh cãi chưa thể thống nhất trong một sớm một chiều. Bởi cả hai hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế đều là những thực thể động, không ngừng thay đổi để bắt nhịp với sự phát triển của đời sống xã hội. Do vậy, cần phải xác định, nhiệm vụ xác định và giải quyết mối quan hệ giữa hai hệ thống pháp luật này là một quá trình lâu dài và sẽ không bao giờ hết tính thời sự.


CHÚ THÍCH

[1] Chỉ thị số 14/2008/CT-TTg ngày 22/04/2008 của Thủ trướng Chính phủ về các biện pháp tăng cường kiểm tra, đôn đốc, thực hiện các ĐƯQT trong lĩnh vực kinh tế thương mại.
[2] “ Xây dựng dự thảo luật điều ước quốc tế : Từ ĐƯQT đến pháp luật quốc gia”, www.vnlawfind.com.vn (Theo báo Pháp luật 17/02/2005).
[3] Xem thêm: “ Về việc áp dụng ĐƯQT và quan hệ thứ bậc giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia”, Nguyễn Bá Diến, http://www.vnu.edu.vn/en/contents/index php?ID=717.
[4], [5] Nhà pháp luật Việt – Pháp, Nhập môn luật học, Jean – Claude Ricci, “Quan hệ thứ bậc giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế”, trang 47.
[6] Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, “Những vấn đề lí luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật”.
[7] Xem thêm: Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Bùi Ngọc Toàn,Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 02(69), tháng 2/2006.
[8]Báo cáo của Bộ ngoại giao (tháng 5/2004): Tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh về kí kết và thực hiện ĐƯQT (1998 – 2003).
[9] Điều 3 Chương I, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số 41/2005/QH11 ngày 14/06/2005.
[10] Xem thêm: Bàn về việc thực thi ĐƯQT, Hoàng Ngọc Giao, Tạp chí Nhà nước và pháp luật sô 3/2005
[11] Xem thêm: Bàn về việc thực thi ĐƯQT, Hoàng Ngọc Giao, Tạp chí Nhà nước và pháp luật sô 3/2005.
[12] Xem thêm: Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Bùi Ngọc Toàn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 02 (69) tháng 2/2006.
[13] Xem thêm: Đảm bảo sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế ở Việt Nam, TS. Lê Thành Long, Hội nghị khoa học về tính thống nhất của hệ thống pháp luật (31/8 – 1/9/2006).
[14] Xem thêm: Đảm bảo sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế ở Việt Nam, TS. Lê Thành Long, Hội nghị khoa học về
tính thống nhất của hệ thống pháp luật (31/8 – 1/9/2006).
[15] Khoản 2 Điều 3, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số 41/2005/QH11 ngày 14/06/2005.
[16] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2006, trang 112.
[17] Khoản 1 Điều 6, Luật ký, kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số 41/2005/QH11 ngày 14/06/2005.
[18] Điều 54 của Hiến pháp 1958 Cộng hòa Pháp quy định: “Theo yêu cầu của Tổng thống, Thủ tướng hay Chủ tịch Thượng viện hoặc Hạ viện, nếu Hội đồng bảo hiến đã tuyên bố về một cam kết quốc tế có chứa đựng một điều khoản trái với Hiến pháp thì việc cho phép phê duyệt hay phê chuẩn nó chỉ có thể diễn ra sau khi có sửa đổi Hiến pháp”.Thực tế, từ khi ban hành Hiến pháp 1958 đến nay, Pháp đã trải qua 4 lần sửa đổi Hiến pháp để tham gia các điều ước: Hiệp ước Maxtrict 1992, Hiệp ước Amsterdam 1999, Hiệp ước thành lập Tòa Hình sự quốc tê, Hiến chương về các ngôn ngữ trong khu vực.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Văn kiện pháp lý
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51 của Quốc hội ngày 25/12/2001).
2.Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế do Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005.
3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, 2006.
4. Chỉ thị số 14/2008/CT – TTg ngày 22/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện các ĐƯQT trong lĩnh vực kinh tế thương mại.

Sách, giáo trình
1. Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2008.
2. Giáo trình Luật quốc tế, . Trường Đại hoc Luật Hà Nội NXB Công an nhân dân, 2008.
3. Giáo trình Pháp luật đại cương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, chủ biên Nguyễn Hợp Toàn, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2006.
4. Tìm hiểu luật quốc tế, Nguyễn Trung Tín, NXB Đồng Nai, 2000.
5. Luật quốc tế - lí luận và thực tiễn, Trần Văn Thắng và Lê Mai Anh, NXB Giáo dục, 2001
6. Những vấn đề lí luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị quốc gia.
7. Nhập môn luật học, Nhà pháp luật Việt – Pháp, Jean – Claude Ricci.
8. Thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, 2006.
9. Chính sách đối ngoại Việt Nam, tập II 1975 – 2006, Học viện Quan hệ quốc tế, TS. Nguyễn Vũ Tùng, NXB Thế giới.

Bài báo, tạp chí
1. Bàn về việc thực thi ĐƯQT, Hoàng Ngọc Giao, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2005.
2. Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Bùi Ngọc Toàn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 02 (69) tháng 2/2006.
3. Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay, Nguyễn Thị Hồi, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12 (128) tháng 8/2008.
4. ĐƯQT với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong quá trình hội nhập, Vũ Mão, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 1/2005.
5. Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Luật học số 2/2003.

Website
1. Đảm bảo sự thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia và quốc tế ở Việt Nam, TS. Lê Thành Long nguồn: http://www.lerap.org/files/wto - vn/china/lerap.
2. Xây dựng dự thảo Luật ĐƯQT: Từ ĐƯQT đến pháp luật quốc gia, Báo Pháp luật ngày 17/02/2005, Ngô Đức Mạnh, nguồn: http://www.mofa.gov.vn/vi.
3. Về việc áp dụng ĐƯQT và quan hệ thứ bậc giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia, Nguyễn Bá Diến, nguồn: http://www.vnu.edu.vn/en/contents/index.
4. Vai trò của ĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam, TS.
5. Dự án luật về ĐƯQT: Tòa án không có trách nhiệm áp dụng ĐƯQT khi có xét xử, Báo Pháp luật ngày 25/02/2005, nguồn: http://www.vnlawfind.com.vn.
…….
Hà Nội, tháng 12 năm 2008.